Home / Cây thuốc / Cây ngải cứu có tác dụng chữa bệnh gì?

Cây ngải cứu có tác dụng chữa bệnh gì?

Cây ngải cứu có tác dụng chữa bệnh gì? là câu hỏi nhiều người đặt ra. Từ xa xưa, ngải cứu được biết đến không chỉ là một món ăn ngon dễ tìm mà còn là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

Tên gọi khác:

Cây ngải cứu còn có tên trong dân gian là cây thuốc cứu, cây thuốc cao hay ngải điệp, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (H’mông), cỏ linh li (Thái).

Tên khoa học:

Cây ngải cứu có tên khoa học Artemisia vulgaris L.

Thuộc họ Cúc Asteraceae

Hình dáng:

Ngải cứu là loại cỏ sống lâu năm, thân có rãnh dọc. Lá mọc so le không cuống, màu 2 mặt lá khác nhau, mặt trên nhẵn, màu lục sẫm. Mặt dưới trắng tro, có nhiều lông nhỏ.

Khu vực phân bố:

Ngải cứu có nguồn gốc ôn đới ở châu Âu, châu Á, bắc Phi, Alaska và bắc Mỹ

Cây ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước ta, có thể trồng quanh nhà làm thuốc.

Bộ phận sử dụng:

  • Bộ phận được sử dụng chủ yếu là lá và ngọc có hoa của cây.

Cách thu hái và chế biến:

Thu hái lá và ngọn có hoa vào mùa hè, dùng tươi hoặc phơi khô trong râm mát. Ngải cứu phơi khô để lâu năm càng tốt. Lá ngải cứu phơi khô gọi là ngải điệp. Lá ngải cứu phơi khô vỏ cắt thành bột vụn rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung.

Thành phần hóa học:

Ngải cứu có chứa tinh dầu, Aavonoid, coumarin, các chất sterol…

–   Toàn cây Ngải cứu chứa tinh dầu có hàm lượng 0,20 – 0,34%. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là các monoterpen và sesquiterpen. Gồm 1,8‑cineol, camphor, terpinen 4‑O‑l, β‑pinen, (–)‑borneol, mycren và vulgrin (là những thành phần ít thay đổi) còn thuyon (α hoặc ) thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có (PROSEA – 1999). Ngoài ra còn dehydromatricaria ester, tetradecatrilin, tricosanol, aracholalcol.

–   Các flavonoid hầu hết là 3-0- flavonol luterosid, một triterpene là fermenol. Đáng chú ý là hợp chất sesquiterpenlacton rất phổ biến trong chi artemisia, nhưng hiếm thấy trong Ngải cứu. Người ta mới phát hiện một chất là psilostachyin trong một mẫu Ngải cứu ở Nam Tư (cũ).

–   Trong Ngải cứu Việt Nam, có nhiều chất màu indigo – base, gần 50 hợp chất đã phân tích và xác định có trong lá chủ yếu là β caryophylen 24% và β cubedene 12% ( PROSEA -1999).

Công dụng của cây ngải cứu:

Ngải cứu có vị đắng, mùi thơm, tính ấm, được sử dụng lâu đời trong dân gian và trong Đông y để:

  • – Cầm máu: phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thai ra huyết, thổ huyết, chảy máu cam, đái ra máu.
  • – Giảm đau nhức.
  • – Sát trùng, kháng khuẩn: ghẻ lở, trị viêm da, dị ứng, viêm gan, trừ giun nhờ tinh dầu có tính kháng khuẩn cao.
  • – Điều hòa khí huyết, đau kinh, ôn kinh, an thai.
  • – Đau bụng do lạnh, nôn mửa, kiết lỵ.
  • – Bạch đới, phong thấp, hàn thấp.
  • – Lợi tiểu.

Ngải cứu có hoạt chất diệt và đuổi côn trùng.

Một số bài thuốc từ cây ngải cứu:

Làm thuốc điều kinh:

Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

Giúp an thai:

Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.

Sơ cứu vết thương:

Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức.

Trị mụn, mẩn ngứa:

Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt:

Lấy 300gr ngải cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần.

Lưu thông máu lên não :

Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn.