Home / Cây thuốc / Cây mã đề là cây gì?

Cây mã đề là cây gì?

Cây mã đề từ lâu đã làm một vị thuốc chữa bệnh vô cùng hiệu quả được lưu truyền trong dân gian. Những nghiên cứu khoa học gần đây chứng minh các chất trong cây mã đề có tác dụng chữa bệnh hiệu quả và an toàn. Vậy cây mã đề là cây gì? Nó có đặc điểm và tác dụng gì? Cùng tìm hiểu về vị thuốc nam quý này ngay nào!

Không ít người đã nghe qua tên mã đề, một vị thuốc nam quen thuộc trong dân gian, nhưng thực tế có rất nhiều người không biết cây mã đè là cây gì. Đùng bỏ qua một vị thuốc được liệt vào dạng mạnh nhất của tự nhiên khi dùng làm thuốc chữa bệnh này đấy.

Tên khoa học của cây mã đề:

Cây Mã đề còn có tên khác là Mã đề thảo, xa tiền thái, xa tiền, tên khoa học là Plantago major L., họ mã đề – Plantaginaceae.

Cây mã đề ở Việt Nam có 2 loài:

  • Loài Plantago major (mã đề lớn) chủ yếu được dùng làm rau, được trồng phổ biến.

Trong loài này có 3 phân loài (subspecies) là:

– Plantago major subsp. major.

– Plantago major subsp. intermedia (DC.) Arcang.

– Plantago major subsp. winteri (Wirtg.) W.Ludw.

  • Loài Plantago asiatica (mã đề, mã đề á hay xa tiền) chủ yếu được dùng làm thuốc.

Về tính vị và công dụng dược liệu của hai loài tương tự nhau nhưng ở loài mã đề (lá) lớn có chất lượng kém hơn.

Đặc điểm cây mã đề:

  • Cây mã đề là loại cỏ sống lâu năm, thân nhẵn.

  • Lá mọc thành cụm ở gốc, phiến lá hình thìa hay hình trứng, có gân dọc theo sống lá và đồng quy ở ngọn và gốc lá.
  • Hoa mọc thành bông, có cán dài, xuất phát từ kẽ lá. Hoa lưỡng tính.
  • Quả hộp, trong chứa nhiều hạt màu nâu đen bóng.
  • Bộ phận dùng làm thuốc của cây mã đề là lá và hạt, lá mã đề thường gọi là Xa tiền thảo, hạt mã đề thường gọi là Xa tiền tử.

Cây mã đề mọc ở đâu:

Các loài mã đề mọc ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Châu Mỹ, Châu Á, Úc, New Zealand, Châu Phi và Châu Âu. Nhiều loài trong chi phân bổ rộng khắp thế giới như là một dạng cỏ dại.

Cây mã đề thường được tìm thấy trong nhiều môi trường sống khác nhau, từ những vùng ẩm ướt ở đồng bằng, vùng ven biển cho đến các khu vực bán sơn địa và vùng núi cao.

Riêng loài Mã đề Plantago asiatica (tên đồng nghĩa: Plantago major subsp. major hay Plantago major) có nguồn gốc ở vùng cận nhiệt đới ở Nam Á, được dùng làm thuốc từ lâu đời ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

Ở Việt Nam cây mã đề lá lớn được trồng phổ biến để làm rau và cây mã đề lá nhỏ mọc hoang dại trên khắp cả nước chủ yếu được dùng làm thuốc.

Người dân thường thu hái cây mã đề vào tháng 7-8, lúc quả chín, thu hái toàn cây đem về phơi khô, đập quả lấy hạt, rồi phơi khô.

Cây mã đề  có tác dụng gì?

Theo Đông y, cây mã đề vị ngọt, tính lạnh, tác dụng mát máu, khử nhiệt, ngưng cháy máu cam, tiểu tắc nghẽn, làm sáng mắt, thông mồ hôi, làm sạch phong nhiệt tại gan, phổi, chữa chứng thấp nhiệt ở bàng quang, lợi tiểu tiện mà không chạy khí, khiến cường âm tích tinh.

Trong lá cây Mã đề giàu canxi và các khoáng chất khác, với 100 gram lá chứa một lượng vitamin A tương đương với củ cà rốt. Toàn thân chứa một glucozit gọi là aucubin hay rinantin còn gọi là aucubozit. Trong lá có chất nhầy, chất đắng, carotin, vitamin C, vitamin K yếu tố T. Trong hạt chứa chất nhầy, axit plantenolic, adnin và cholin.

Các thử nghiệm cho thấy, mã đề (đặc biệt là phần lá) có tác dụng lợi tiểu, tăng thải trừ urê, axit uric và muối trong nước tiểu. Do đó, có thể dùng nó để hỗ trợ điều trị chứng tăng huyết áp bên cạnh các thuốc đặc hiệu.

Hạt mã đề được sử dụng trong một số bài thuốc hiệu quả chữa sỏi đường tiết niệu. Mã đề cũng có tác dụng long đờm và trị ho. Thuốc viên bào chế từ cao mã đề và terpin đã được áp dụng trên lâm sàng, điều trị hiệu quả các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, chữa ho và phục hồi tiếng nói ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp.Tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và làm hết các triệu chứng tại chỗ của mã đề được đánh giá là tương đương các thuốc kháng khuẩn thường dùng.

Mã đề cũng được sử dụng trong các dược phẩm trị mụn nhọt và bỏng. Các nghiên cứu cũng cho thấy, chất polysacharid trong hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón mạn tính.

Một số bài thuốc từ cây mã đề:

Chữa chứng bí tiểu tiện:

Dùng 12g hạt mã đề sắc uống làm nhiều lần trong ngày – có thể sắc cùng một ít lá mã đề uống cũng tốt.

Chữa viêm phế quản:

Mỗi ngày dùng 6 – 12g hạt mã đề hay dùng cả cây sắc uống nhiều lần trong ngày.

Chữa chốc lở ở trẻ nhỏ:

Dùng một nắm rau mã đề tươi, rửa sạch thái nhỏ – nấu với 100g -150g giò sống, cho trẻ ăn liền trong nhiều ngày sẽ khỏi. Nếu trẻ nhỏ ăn canh này thường xuyên phòng được chốc lở.

Chữa chứng sốt xuất huyết:

Mã đề tươi 50g – củ sắn dây 30g -nước 1 lít sắc còn lại một nửa chia 2 lần uống vào lúc đói trong ngày – uống như vậy 3 ngày các ngày sau mỗi ngày uống 1 lần.

Chữa tiểu tiện ra máu:

Dùng rau mã đề một nắm to rửa sạch giã nát vắt lấy nước cốt uống vào lúc đói bụng – có thể thêm cỏ mực hai thứ bằng nhau cũng làm như trên và uống lúc đói sẽ có hiệu quả sau vài ngày.

Chữa chứng tiểu ra máu, cơ thể nhiệt ở người già:

Dùng hạt mã đề (một vốc) giã nát bọc vào khăn vải sạch đổ 2 bát nước, sắc còn một bát, bỏ bã, đổ vào nước ấy 3 vốc hột kê và nấu thành cháo ăn khi đói – ăn nhiều mắt sáng làm người mát.

Chữa trẻ bị sởi gây tiêu chảy:

Dùng hạt mã đề, sao qua, sắc uống – nếu bí tiểu tiện thì thêm mộc thông – có thể dùng hạt mã đề với rau dừa nước lượng như nhau, sắc uống nếu như không có mộc thông.

Chữa chứng ngứa đau ở bộ phận sinh dục:

Lấy một nắm to hạt mã đề nấu lấy nước ngâm rửa thường xuyên sẽ khỏi (theo Nam Dược Thần hiệu)…

Những lưu ý khi sử dụng cây mã đề

Lá: Phụ nữ có thai dùng phải thận trọng. Người già thận kém, đái đêm nhiều không nên dùng.

Hạt: Không phải thấp nhiệt dùng thận trọng. Bên cạnh đó canh mã đề nấu với tôm, thịt ăn rất ngon và có tác dụng giải nhiệt, tiểu tiện dễ dàng.

Chú ý, khi ăn uống vị mã đề cần kiêng kị những chất kích thích đưa vào cơ thể gây nóng như rượu, cà phê, gia vị…