Home / Cây thuốc / Cây khế có tác dụng chữa bệnh gì?

Cây khế có tác dụng chữa bệnh gì?

Cây khế là một cây trồng ăn quả khá phổ biến ở mỗi vùng quê việt nam. Cây có thể tạo bóng mát, vừa làm cây ăn quả. Ngoài ra hầu hết các bộ phận của cây khế đều có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Cùng tìm hiểu xem cây khế có tác dụng chữa bệnh gì nào!

Cây khế là không chỉ có tác dụng để ăn quả mà còn là một loại thuốc chữa bệnh tuyệt vời. Vậy cây khế có tác dụng chữa bệnh gì? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn biết thêm một cây thuốc quý trong cuộc sống.

Cây khế có đặc điểm gì?

Cây khế có tên khác là khế chua, khế ta, khế cơm, ngũ liễm tử, ngũ lăng tử, có tên khoa học là Averrhoa Carambola ( L), thuộc họ Oxalidaceae ( Chua me đất)

Thân, tán, lá: Cây khế là cây có thân gỗ to, có thể vươn tới 3 đến 7 m, nhiều cành và phân cành thấp. Gỗ của cây rất giòn và dễ gãy. Cây có lá kép dài đến 50 cm. Các lá mềm, xanh trung bình, lá kép lẽ bao gồm 5 -11 lá chét, trong đó có 1 lá mọc ở đỉnh và bên dưới là từng cặp mọc đối diện.

Hoa, quả, hạt: Hoa mọc thành cụm, hoa có màu tím. Hoa nhỏ hình cuông màu đỏ tím, mỗi hoa rộng khoảng 5 – 6 mm, có 5 cánh. Quả dạng hình trứng hay elip, dài 5 -15 cm, có 5 khía, mặt cắt ngang, nó giống như một ngôi sao. Da quả mỏng mịn,và bóng màu vàng đậm khi chín.

Thịt quả mọng nước, có màu trắng hay xanh khi còn non và chuyển sang màu vàng sáng khi chín. Mỗi quả khế chua có thể có 10 -12 hạt dẹt, phẳng màu nâu nhạt dài khoảng 0.5 – 1.3 cm. Vỏ hạt có lớp ngoài bì sền sệt và trong suốt bao bọc.

Cây khế có nguồn gốc từ Sri Lanka và hiện nay được phổ biến tại nhiều nước Đông Nam Á.  Cây cũng được trồng tại Ghana, Brasil và Guyana. Tại Hoa Kỳ nó được trồng với quy mô thương mại tại miền nam Florida và Hawaii. Ở Việt Nam, cây được trồng khắp miền Nam Bắc.

Cây khế có tác dụng chữa bệnh gì?

Trong y học cổ truyền thường sử dụng khế chua để chữa bệnh. Quả khế vị chua và ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, làm long đờm và tiết nước bọt. Rễ khế vị chua, tính bình; có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Thân và lá vị chua và se, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Hoa vị ngọt, tính bình.

Khoa học hiện đại đã xác định trong thành phần của khế múi, có các chất theo g%: nước 92, protid 0,6, glucid 3,1; cellulose 2,6; và theo mg%: calcium 10; phosphor 8; sắt 0,9; caroten 160; vitamin B1 0,05; vitamin C 30.

Rễ cây khế:

Rễ được dùng làm thuốc sáp tinh, chỉ huyết, chỉ thống để trị di tinh, chảy máu mũi, đau đầu mãn tính, tê đau khớp xương.

Lá cây khế:

Cành lá được dùng làm thuốc khư phong lợi thấp, tiêu thũng chỉ thống, để trị cảm mạo do phong nhiệt. Ngoài rviêm dạ dày – ruột cấp tính, tiểu tiện bất lợi, sản hậu phù thũng, đòn ngã tê đau, mụn nhọt…

Hoa khế:

Hoa có thể làm thuốc thanh nhiệt trị nóng, lạnh đan xen nhau.

Qủa khế:

Quả được dùng làm thuốc sinh tân chỉ khát, trị ho do phong nhiệt, đau họng, bệnh lỵ…

Một số bài thuốc chữa bệnh thường dùng từ cây khế

Lá khế:

Chữa cảm nắng, cảm nóng: Lá khế bánh tẻ tươi 100g, lá chanh tươi 40g, rửa sạch, giã vắt lấy nước uống. Bã đắp vào thái dương và gan bàn chân. Hoặc lấy một quả khế già chưa chín, nướng qua, sắc nước uống.

Chữa nhức đầu, đi tiểu ít: Lá khế tươi 100g sao thơm, nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Hoặc dùng lá khế tươi 100g, lá chanh tươi 20 – 40g, hai thứ rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Chữa lở loét, mụn nhọt, nước ăn chân: Nấu nước lá khế kết hợp với lá thanh hao, lá long não… làm nước tắm. Hoặc nấu nước quả khế rửa chỗ đau hằng ngày hoặc lấy 1 – 2 quả khế chín, vùi trong tro nóng để vừa ấm rồi áp lên chỗ đau.

Chữa ngộ độc nấm: Lấy lá khế 20g, lá lốt 10g, đậu ván đỏ 20g. Tất cả đều dùng tươi, rửa sạch, cho vào cối giã nát, hòa với 200ml nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước uống cả một lần. Thường chỉ uống 2 – 3 lần là khỏi bệnh.

Phòng bệnh sốt xuất huyết: Sắc lá khế 16g với sắn dây, lá dâu, lá tre, mã đề, sinh địa mỗi thứ 12g. Lấy nước uống hằng ngày trong thời gian địa phương có dịch bệnh sốt xuất huyết có thể chủ động đề phòng được bệnh.

Chữa dị ứng, mẩn ngứa: Lấy lá khế tươi giã nát bôi vào chỗ da nổi mẩn, kết hợp với uống nước sắc vỏ núc nác.

Chữa viêm họng cấp: Lá khế tươi 80 – 100g, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước cốt.  Chia 2 – 3 lần để ngậm và nuốt dần.

Qủa khế:

Chữa bí tiểu, đau tức bàng quang: Khế chua 7 quả, mỗi quả chỉ lấy 1/3 phía gần cuống. Nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, uống lúc còn ấm nóng. Ngoài ra, lấy 1 quả khế và 1 củ tỏi giã nát nhuyễn, đắp vào rốn.

Chữa cảm cúm, mình mẩy đau nhức: Khế chua 3 quả, nướng chín, vắt lấy nước cốt, hòa với 50ml rượu trắng. Ngày uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần uống vào lúc không no không đói quá.

Trị tóc bạc sớm: Khế chua 150g, nước dừa 200ml, mật ong. Cách làm: Khế rửa sạch, ép lấy nước rồi hòa nước khế với nước dừa, trộn thêm mật ong vừa đủ uống, uống ngày 2 lần.

Hoa khế:

Chữa ho khan, ho có đờm: Hoa khế (sao với nước gừng) 8 – 12g, cam thảo nam 12g, tía tô 8 – 10g, kinh giới 8 – 10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia làm 2 lần uống trước bữa ăn.

Lưu ý:

Trẻ em trong giai đoạn phát triển nên hạn chế ăn khế và những thức ăn có nhiều axít ôxalic như lá me chua, chanh… vì axít ôxalic cản trở sự hấp thu canxi cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.

Những người bị bệnh thận cũng không nên ăn khế vì axit oxalic trong khế cũng dễ gây ra sỏi thận.